Bệnh viêm khớp vảy nến thường xuất hiện trên một số bệnh nhân đã từng bị vảy nến da trước đó. Không chỉ gây tổn thương trên da mà bệnh còn gây viêm khớp ở các khớp ngoại biên hoặc cột sống. Trường hợp bệnh nặng có thể gây biến dạng và phá huỷ khớp không phục hồi. Do đó người bệnh cần tìm cách điều trị ngay từ khi mới phát bệnh để kiềm chế bệnh phát triển không để ảnh hưởng đến sức khoẻ và chất lượng sống của bản thân.

1. Nguyên tắc điều trị bệnh viêm khớp vảy nến
– Cần kết hợp điều trị cả tổn thương da và khớp. Hầu hết các thuốc trị viêm khớp vảy nến hiện nay đều đáp ứng được yêu cầu này.
– Bên cạnh việc sử dụng thuốc thì người bệnh cần sử dụng các biện pháp hỗ trợ khác như: giáo dục bệnh nhân, vật lý trị liệu để hồi phục chức năng vận động; ngoại khoa có thể cần thiết để chỉnh sửa, thay khớp ở giai đoạn muộn.
– Tuỳ theo tình trạng bệnh nặng nhẹ mà sử dụng các loại thuốc thích hợp: Với các thể viêm khớp nhẹ, khu trú ở một vài khớp có thể chỉ cần dùng các thuốc kháng viêm không steroid đơn độc hoặc phối hợp với chích corticosteroid tại khớp. Thể trung bình, nặng thường đòi hỏi sử dụng các thuốc điều trị cơ bản như methotrexate và/hoặc các chế phẩm sinh học.
2. Điều trị tổn thương da:
– Bệnh nhẹ chưa gây tổn thương nhiều cho da thì có thể dùng thuốc bôi tại chỗ như anthralin, mỡ vitamin D, mỡ salixylate, mỡ corticosteroid
– Với những trường hợp da bị tổn thương nặng: phối hợp với các thuốc điều trị toàn thân như methotrexate, liệu pháp hóa-quang (methoxypsoralen kết hợp với chiếu tia cực tím A sóng dài), các dẫn chất acid retinoic (etretinate), cyclosporin, các chế phẩm sinh học.
3. Các thuốc điều trị viêm khớp vảy nến:

a. Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID):
-Đây là nhóm thuốc thường được lựa chọn đầu tiên, song chủ yếu để điều trị triệu chứng, thường không có tác dụng trên tổn thương da, không ngăn chặn được sự phá hủy khớp.
-Cần lưu ý các tác dụng phụ, đặc biệt trên đường tiêu hóa, thận, và nguy cơ tim mạch (đối với các thuốc ức chế chọn lọc COX-2).
b. Corticosteroid:
– Rất thận trọng khi sử dụng thuốc corticoid đường toàn thân vì hiệu quả hạn chế và có thể làm cho bệnh nặng lên khi giảm liều hoặc ngưng thuốc, đặc biệt là biến chứng gây đỏ da toàn thân.
– Corticoid có thể cần thiết đối với những bệnh nhân đã sử dụng kéo dài hoặc trong những đợt bệnh bùng phát nặng, ít đáp ứng với các biện pháp điều trị khác.
– Đối với các thể viêm vài khớp có thể sử dụng tiêm corticoid nội khớp.
c. Các thuốc điều trị cơ bản, làm thay đổi bệnh (DMARD): Chỉ định cho viêm khớp vảy nến trung bình và nặng. Các thuốc này có tác dụng đối với cả tổn thương da và khớp.
-Methotrexate: là thuốc được sử dụng rộng rãi nhất trong điều trị viêm khớp vảy nến. Sử dụng một lần mỗi tuần, liều lượng 7,5-25 mg/tuần, bắt đầu từ liều thấp 7,5-10 mg/tuần, tăng dần tùy theo đáp ứng điều trị và tác dụng phụ. Liều trên 15 mg/tuần có thể dùng dạng tiêm bắp hoặc tiêm dưới da. Methotrexate liều thấp nói chung ít tác dụng phụ và đa phần là nhẹ, gồm buồn nôn, chán ăn, viêm dạ dày, mệt, tăng nhẹ men gan, nặng hơn là ức chế tủy xương, nhiễm độc gan, xơ phổi. Việc bổ sung acid folic 1-5 mg/ngày có thể làm hạn chế tác dụng phụ của methotrexate.
-Các DMARD khác: Sulfasalazine, leflunomide, hydroxychloroquine, cyclosporine A và các thuốc ức chế miễn dịch khác cũng có thể được sử dụng nếu không dùng được methotrexate.
d. Các chế phẩm sinh học: Được chỉ định cho những bệnh nhân nặng hoặc không đáp ứng đầy đủ với các thuốc DMARD cổ điển như methortrexate. Các thuốc này có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp với methotrexate.
– Thuốc kháng tế bào limpho B (rituximab), một số chế phẩm sinh học khác.
– Các thuốc kháng TNF-α: infliximab, etanercept, adalimumab
– Các thuốc ức chế yếu tố đồng kích thích (ức chế hoạt hóa tế bào T): alefacept, efalizumab

Thuốc và cách điều trị bệnh viêm khớp vảy nến

Bình luận

 Top